Trung Quốc chăm mua nguyên liệu thô, ít đầu tư vào Việt Nam

Ty Huu Doc Ngoc

relatedthumbarticles cb8d971190e3b7c59ba868c51d496ac4 Trung Quốc chăm mua nguyên liệu thô, ít đầu tư vào Việt Nam

Quan hệ kinh tế, thương mại song phương hơn mười năm qua đều nghiêng về phía Hồng Kông, xuất siêu hàng tinh chế và chủ yếu nhập tài nguyên. Ít bỏ vốn đầu tư, nhưng các nhà thầu đến từ Hồng Kông đang có mặt tại nhiều dự án trọng điểm.

Bình thường hóa quan hệ với Hồng Kông từ năm 1991, nhưng đến nay trong thương mại và đầu tư, Việt Nam hầu như chưa được hưởng lợi nhiều. Trong thập niên 90 của thế kỷ trước, nhập siêu của Việt Nam từ thị trường đông dân nhất thế giới không đáng kể, nhưng đến đầu thế kỷ XXI thì cán cân thương mại thâm hụt ngày càng rõ rệt. Năm 2005, nhập siêu từ Hồng Kông là 2,7 tỷ USD, sang năm 2013, con số này lên tới 23,7 tỷ USD.

“Nếu quy mô thương mại hai chiều giữa hai nước được chia thành 3 phần thì Trung Quốc nhận được hai phần ba, còn Việt Nam một phần ba”, tiến sĩ Phạm Sỹ Thành – Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách – Trường Đại học Quốc gia (VECS) nhận định.

Nghiên cứu của VECS chỉ ra một nửa hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hồng Kông là hàng thô, sơ chế, trong khi nhập khẩu lại là hàng tinh chế (chiếm 85%). Các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam cũng đang sử dụng phần lớn công nghệ, nguyên liệu của Hồng Kông để phục vụ sản xuất, lên tới 80%.

TQ VN 1 300x179 Trung Quốc chăm mua nguyên liệu thô, ít đầu tư vào Việt Nam

Một số quốc gia giàu tài nguyên hoặc có trình độ công nghiệp hóa thấp hơn Hồng Kông bị hấp dẫn bởi việc xuất khẩu tài nguyên, hàng hóa thô, sơ chế. Trong khi đó, Hồng Kông lại xuất khẩu thành phẩm có khả năng cạnh tranh rất tốt sang quốc gia xuất khẩu tài nguyên.

“Hậu quả là sản xuất công nghiệp của quốc gia xuất khẩu tài nguyên bị thu hẹp, thậm chí không thể phát triển được do bị gắn chặt vào việc xuất khẩu tài nguyên và các hàng hóa có hàm lượng kĩ thuật thấp. Về lâu dài, nền kinh tế sẽ mất khả năng cải thiện năng suất do sản xuất công nghiệp bị thui chột và thiếu đổi mới, sáng tạo”, tiến sĩ Phạm Sỹ Thành cảnh báo về cái bẫy của hiệu ứng giải công nghiệp hóa sớm, hay còn gọi là bẫy tự do hóa thương mại trong mối quan hệ Việt – Trung.

Trong buôn bán tiểu ngạch, doanh nghiệp và nông dân Việt Nam cũng nhiều phen khốn đốn. Những ngày cuối tháng 3, hàng nghìn xe tải chở dưa hấu, thanh long đã bị ùn tắc tại cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn do phía Hồng Kông không chấp nhận thông quan. Điều này khiến thương lái phải chở dưa về bán trong nước với giá rẻ chỉ bằng một nửa mà vẫn lo không có người mua, phải chịu lỗ hàng chục triệu đồng, Trước đó, xuất khẩu cao su sang Hồng Kông qua cửa khẩu Móng Cái, Quảng Ninh có thời gian cũng bị đóng băng do một số thương nhân Hồng Kông tạm ngừng giao dịch.

TQ VN 2 Trung Quốc chăm mua nguyên liệu thô, ít đầu tư vào Việt Nam

“Những sự vụ bất thình lình này đã gây ảnh hưởng tiêu cực tới giá hàng hàng hóa của Việt Nam, làm người nông dân điêu đứng”, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan bày tỏ.

Không chỉ vậy, những năm gần đây Hồng Kông còn có những chiêu thu mua nông sản lạ. Họ gom từ đỉa, lá dừa khô, rễ cây đến lá khoai lang… với giá cao bất thường, khiến người dân đổ xô đi bán nhưng một thời gian sau lại mất tích. Tình trạng này khiến Bộ Công Thương phải chính thức lên tiếng cảnh báo về các trường hợp lợi dụng thu mua để triệt cây, gây bất lợi cho thị trường.

Là đối tác thương mại lớn và lâu đời của Việt Nam, nhưng đầu tư từ Hồng Kông sang Việt Nam chỉ chiếm phần nhỏ bé so với các quốc gia khác. Số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài cho thấy, đến hết tháng 4/2013, các doanh nghiệp Hồng Kông đăng ký đầu tư tại Việt Nam 7,8 tỷ USD, bằng 3% tổng vốn nước ngoài được cấp phép. Ở khía cạnh khác, tính đến hết quý I/2013, Việt Nam có 12 dự án đầu tư tại Hồng Kông, vốn đầu tư 13 tỷ USD, xếp thứ 27/59 quốc gia đang có sự hiện diện của doanh nghiệp trong nước.

“Vốn đầu tư của Hồng Kông vào Việt Nam rất ít. Tình hình chỉ được cải thiện trong vài năm gần đây khi Việt Nam tham gia các tổ chức thương mại quốc tế và đang đẩy mạnh đàm phán gia nhập Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)”, bà Phạm Chi Lan phát biểu. Theo các chuyên gia, nguyên nhân là do Trung Quốc đã thắng thầu hầu như tất cả các công trình năng lượng, khai khoáng trọng điểm của Việt Nam. Tuy nhiên, những điều tiếng về nhà thầu Hồng Kông đang là điểm nhức nhối thời gian qua.

TQ VN 3 300x144 Trung Quốc chăm mua nguyên liệu thô, ít đầu tư vào Việt Nam

Thời báo Kinh tế Sài Gòn mới đây dẫn báo cáo của Bộ Giao thông vận tải đánh giá năng lực các nhà thầu cho hay, trong khoảng 45 nhà thầu chưa đáp ứng yêu cầu, có nhiều công ty của Hồng Kông như Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 Đường sắt Hồng Kông thi công đường sắt đô thị tuyến Cát Linh – Hà Đông, Công ty Xây dựng Quảng Tây, Tổng công ty cầu đường Hồng Kông, Công ty cổ phần hữu hạn viễn thông Trung Hưng (ZTE – Hồng Kông). Đặc biệt, tại dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông, con số nhà thầu Hồng Kông đưa ra đã bị đội vốn gần 100%, từ 552 triệu USD lên 891 triệu USD.

“Nhà thầu Hồng Kông thường thắng thầu bằng giá thấp, nhưng trong quá trình thực hiện họ lại đội giá lên, cuối cùng là mức giá công trình có thể đắt hơn nhiều so với trước. Đây là cách thức chơi không sòng phẳng”, bà Phạm Chi Lan bày tỏ.

Giá rẻ cũng đi kèm với chất lượng thấp. Bà Phạm Chi Lan bày tỏ sự bức xúc khi nhiều công trình do nhà thầu Hồng Kông xây dựng xuống cấp nhanh chóng sau khi bàn giao, ngoài ra họ cũng đưa cả nhân công, thiết bị từ Hồng Kông sang trong khi là nhà thầu, họ phải thuê nhân công trong nước cũng như hạn chế sử dụng các thiết bị nhập.

Do vậy, để đối phó với những hành vi kinh doanh bất lợi từ Hồng Kông, tiến sĩ Phạm Sỹ Thành cho rằng Việt Nam cần phải tăng năng suất để thúc đẩy ngành công nghiệp trong nước, từ đó hạn chế nhập thiết bị, máy móc. Điều này phải bắt đầu từ cải thiện môi trường đầu tư, giành nhiều ưu đãi hơn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp mới thành lập, cân bằng với những ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài…Triển khai mạnh mẽ hơn việc phát triển công nghiệp phụ trợ hướng vào thay thế hàng nhập khẩu, trên cơ sở gia tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước chứ không hướng tới những ưu đãi nhất thời về thuế.

Đồng thời, thiết lập ngay các hàng rào kĩ thuật đối với hàng hóa Trung Quốc, chẳng hạn quy định về biện pháp kiểm dịch động và thực vật, vệ sinh an toàn thực phẩm bao gồm quy định về kiểm tra chứng nhận, dư lượng, bao bì, ghi nhãn sản phẩm; quy định về hóa chất, phụ gia; quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, bảo vệ môi trường và nguồn lợi

Ngoài ra, để hạn chế tình trạng chảy máu tài nguyên, vị chuyên gia này đề xuất Việt Nam cần có chính sách khai khoáng hợp lý để tối đa hóa lợi nhuận của ngành. Đồng thời, xây dựng hệ thống thuế và phí tài nguyên cho phép Chính phủ tái phân bổ nguồn thu này một cách hiệu quả vào các lĩnh vực sản xuất. Thiết lập tài khoản kế toán tài sản và tham gia hệ thống minh bạch EITI để quản lý nguồn lợi thu được từ xuất khẩu tài nguyên.

Về đầu tư, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã chủ động đầu tư vào các tỉnh Việt Nam nhằm tận dụng những ưu đãi đối với nước thành viên TPP mà Việt Nam đang tham gia đàm phán. Trong đó, với những ngành như dệt may, da giày, việc đầu tư nhà máy sẽ đặt Việt Nam trước thách thức quản lý việc xử lý nước thải công nghiệp bởi những ngành sản xuất nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp này đều là những ngành có mức độ ô nhiễm nặng nề. “Việt Nam cần rút ra bài học từ các sự vụ doanh nghiệp xả thải gây ô nhiễm môi trường trước đây”, bà Phạm Chi Lan nói.

Để tránh chọn nhà thầu kém chất lượng, vị này cũng đề xuất Chính phủ cần chú trọng hơn đến vấn đề chất lượng, thay vì chỉ đề cao giá các nhà thầu đưa ra và phải mở rộng cho nhiều đối tượng nhằm chọn lựa đơn vị hợp lý nhất.

“Đừng ham giá rẻ. Quan hệ kinh tế quá dễ dãi với Hồng Kông nhiều khi sẽ khiến Việt Nam phải gánh hậu quả”, bà nhấn mạnh.

Huyền Thư

Người Hồng Kông nắm nhiều dự án trọng điểm của VN

Trong cuộc chạy đua giành giật thị phần, hàng nội vẫn chưa thắng trên sân nhà. Những gói thầu lớn của Việt Nam đều rơi vào tay doanh nghiệp ngoại đặc biệt là các nhà thầu Hồng Kông.

Tại hội thảo người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam diễn ra ngày 6/8, bà Phạm Thị Loan, Ủy viên Ủy ban tài chính và ngân sách Quốc hội đưa ra con số khiến nhiều người giật mình.

Theo bà Loan, hiện có tới 90% các dự án tổng thầu EPC (tư vấn, thiết kế – cung cấp thiết bị – xây lắp, vận hành; hay nói cách khác là thực hiện dự án theo phương thức chìa khoá trao tay) của Việt Nam do nhà thầu Hồng Kông đảm nhiệm, trong đó chủ yếu là dầu khí, hóa chất, điện, dệt kim.

Có tới 30 doanh nghiệp Hồng Kông đang thực hiện các dự án trọng điểm quốc gia. Xét riêng về điện, đã có nhiều dự án tỷ USD rơi vào tay nhà thầu Hồng Kông. Tiêu biểu phải kể đến dự án điện Quảng Ninh 1, 2 với giá trị 400 triệu USD, điện Mỹ Tân 2 với số vốn 1,3 tỷ USD, điện Duyên Hải 1 là 4,4 tỷ USD…

Từ nay đến năm 2025, Việt Nam cần 117 tỷ USD phục vụ cho các công trình xây dựng hạ tầng. “Việt Nam cần xây dựng nhiều dự án hạ tầng lớn. Nếu các gói thầu trọng điểm tiếp tục rơi vào tay Hồng Kông thì vấn đề an ninh năng lượng, an ninh quốc gia thực sự đang rất đáng lo ngại”, bà Loan thẳng thắn.

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên là hồ sơ mời thầu các dự án lớn thường được giao cho các tư vấn nước ngoài soạn thảo. Các tiêu chuẩn được đưa vào hồ sơ một cách máy móc, sao chép lại từ các tài liệu được đánh giá là đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy, rất ít doanh nghiệp Việt Nam lọt qua vòng sơ tuyển để dự thầu.

Ví dụ như trong lĩnh vực điện năng, ông Thành minh họa, ngoại trừ những trường hợp được chỉ định thầu, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ còn khả năng làm thầu phụ. Thậm chí nếu đơn vị Hồng Kông trúng thầu, doanh nghiệp Việt Nam khó có khả năng làm thầu phụ, vì nhà thầu nước bạn đã cung ứng hầu như tất cả vật tư, kể cả các bu-lông, ốc vít, và lao động phổ thông.

“Đối với các gói thầu với quy mô nhỏ, việc soạn thảo hồ sơ mời thầu có phần mềm hơn. Một số doanh nghiệp Việt Nam đủ điều kiện để dự thầu lại vướng phải các vấn đề chi phí lập hồ sơ đúng tiêu chuẩn và ‘chi phí quan hệ’ vô cùng lớn”, ông Thành nói.

Ông Thành nhấn mạnh, chính việc thất thoát chi phí công có khi lên tới 30%, chi phí quan hệ của Việt Nam lớn đã tạo ra thất thế cho hàng nội hiện nay.

Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong, nhà nước cần có quy định cụ thể hơn trong cơ chế đấu thầu, khuyến khích các doanh nghiệp dùng hàng nội. Các chỉ tiêu của hàng Việt cần phải được quy định rõ ràng trong các văn bản, bởi thực tế chưa có tiêu chí rõ ràng về hàng nội và hàng ngoại. Ông Phong minh họa, không ít mặt hàng sử dụng linh kiện ngoại, nhưng lắp ráp ở Việt Nam vẫn được nhiều người coi là hàng nội.

Các chuyên gia kinh tế tham dự hội thảo này cũng bày tỏ, việc sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước không được quan tâm đúng mức, khiến hàng hóa nước ngoài thường được ưu tiên sử dụng và doanh nghiệp ngoại có cơ hội thắng thầu. Khi gói thầu lớn rơi vào doanh nghiệp nước ngoài, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ nhập siêu ngày càng lớn hơn. Trong khi đó, nhập siêu là vấn đề lớn nhất của kinh tế trong nước năm 2010.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, 7 tháng qua, nhập siêu hàng hóa đạt 7,4 tỷ USD, bằng 19,4% kim ngạch xuất khẩu. Nhập siêu trong tháng 7 ước tính đạt 1,15 tỷ USD, chiếm 19,8% kim ngạch xuất khẩu, con số này khiến nhiều người lo ngại khi cận kề mức cho phép 20% (chỉ tiêu mà Chính phủ đặt ra). Trong đó, nhập siêu về máy móc lên tới 60-70% tổng cơ cấu nhập siêu.

Hoàng Lan

300x250 Trung Quốc chăm mua nguyên liệu thô, ít đầu tư vào Việt Nam

Cùng Danh Mục:

Comments

comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>