Thương lượng có nguyên tắc – biện pháp bảo vệ chủ quyền

Ty Huu Doc Ngoc

Việc Trung Quốc ngang nhiên mang giàn khoan Hải Dương 981 vào trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, dùng nhiều tàu lớn, tàu quân sự đánh đuổi lực lượng thực thi pháp luật và ngư dân của chúng ta cũng giống như một người to khỏe, tự dưng mang vũ khí vào nhà của bạn, ngang ngược đuổi bạn ra mà không cần nghe bạn nói.
Trong trường hợp đó, bạn sẽ dùng phương pháp đàm phán hay cách nào để đòi lại nhà?

Theo cách nhìn nhận của giáo sư Roger Fisher and William Ury1 , những diễn biến ở Hoàng Sa chung quanh giàn khoan Hải Dương 981 được xem như một tình huống đàm phán, dù trong sự kiện này, ngoài Trung Quốc và Việt Nam là hai chủ thể chính cũng có một số chủ thể khác2 xuất hiện.

Bài viết này gồm hai phần: phần 1 chỉ rõ chiến lược và chiến thuật mà Trung Quốc đến nay đã sử dụng, các đòn bẩy và các giải pháp của Trung Quốc và cách nào để chúng ta vô hiệu hóa các đòn bẩy của họ, và phần 2 các điểm quan trọng để chúng ta giành lợi thế khi thương lượng.

Phần 1: Các chiến lược và chiến thuật Trung Quốc đã dùng

Việc Trung Quốc không ngại đâm va các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam, có thái độ hiếu chiếu, khiêu khích và buộc Việt Nam phải lùi bước chính là họ đang sử dụng chiến thuật cạnh tranh, coi chúng ta như đối thủ và quyết tâm dành chiến thắng. Ngoài ra, Trung Quốc còn sử dụng chiến thuật lảng tránh để không giải quyết vấn đề, cụ thể là không trả lời hai công hàm của Bộ Ngoại giao và lảng tránh hơn 30 cuộc nói chuyện Việt Nam chủ động tiến hành.

Về chiến thuật, họ đã trì hoãn có tính toán khi cố tình không tham gia vào thương lượng để thực hiện xong các hoạt động thăm dò dầu khí trước hoặc thậm chí khi Việt Nam tiến hành thủ tục khởi kiện hoặc để họ có thể dời giàn khoan đi chỗ khác, nếu cần thiết. Trung Quốc cũng sử dụng tung hỏa mù thông tin trên các phương tiện đại chúng và gửi văn bản cho Liên hiệp quốc, xuyên tạc Việt Nam đã 1.400 lần đâm va với tàu của Trung Quốc, giải thích sai công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Bắc Kinh năm 1958, tự đưa ra đường đứt khúc 9 đoạn để giải thích lòng vòng khó hiểu. Chiến thuật người bạn cứng rắn hiện đang được Trung Quốc đùng để đối phó với Việt Nam, cụ thể là lời nói của họ thì xem Việt Nam là bạn bè, nhưng hành động thì hiếu chiến, cố tình đâm, gây thương tích và thiệt hại cho các chiến sĩ của ta và các tàu của ngư dân.

Các giải pháp thay thế, các đòn bẩy đàm phán của Trung Quốc và cách vô hiệu hóa

Các giải pháp thay thế tốt nhất, các đòn bẩy giúp cho bên sử dụng gia tăng sức mạnh đàm phán được Trung Quốc sử dụng làm công cụ gồm có ba loại là tích cực3, tiêu cực4 và tiêu chuẩn5. Trong vụ việc này, Trung Quốc không đàm phán, hoặc thậm chí đàm phán có bị thất bại, thì Trung Quốc sẽ dùng giải pháp “sử dụng sức mạnh quân sự, với lực lượng hải quân mạnh hơn, để đàn áp các tàu chấp pháp của Việt Nam”.

Sử dụng đòn bẩy tiêu cực, Trung Quốc nhằm vào các vấn đề mà Việt Nam e ngại, đó là sự đối đầu về quân sự, để giành ưu thế về lợi ích trên bàn đàm phán Biển Đông. Cụ thể, Trung Quốc đã đưa vào trái phép tới 140 tàu, gồm tàu quân sự, tàu hộ vệ tên lửa, tàu đổ bộ, máy bay chiến đấu đến hoạt động ở khu vực giàn khoan Hải Dương 981. Họ hiểu là nền kinh tế của Việt Nam còn nhỏ nên có thể đe dọa thắt chặt các quan hệ thương mại và kinh tế giữa hai nước trong thời gian sắp tới. Họ cũng sử dụng đòn bẩy tích cực đối với Việt Nam, nhằm vào điều Việt Nam vẫn mong muốn là giữ quan hệ với Trung Quốc, với luận điệu “Trung Quốc muốn xây dựng quan hệ tốt đẹp, sống hòa bình với các nước, trong đó có Việt Nam”. Tài liệu công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Bắc Kinh năm 1958 được họ sử dụng như một đòn bẩy tiêu chuẩn, cho rằng Việt Nam phải tôn trọng chủ quyền của nước này với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã xác nhận.

Để giành được lợi thế, Việt Nam cần phải vô hiệu hóa các đòn bẩy của họ. Đó là (i) giải pháp về một sự liên minh với các nước cùng có tranh chấp với Trung Quốc để dự phòng trong trường hợp có Trung Quốc có các hành động quân sự, cũng như có các chiến lược kinh tế bền vững để không phụ thuộc vào nền kinh tế của Trung Quốc, (ii) chúng ta không thương lượng với họ dựa trên niềm tin, lời nói như tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “Việt Nam nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này [chủ quyền] để nhận lấy một thứ hòa bình,hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó” mà phải dựa trên các nguyên tắc khách quan; và (iii) Làm rõ nội dung công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Bắc Kinh năm 1958 chỉ công phận hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc trong đó có Đài Loan6, mà hoàn toàn không đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam7.

Phần 2: Để Việt Nam giành lợi thế trong đàm phán với Trung Quốc

Với những điểm đã phân tích ở trên, một số nội dung quan trọng dưới đây nên được tập trung để củng cố và làm vững vị thế đàm phán của Việt Nam.

• Đầu tiên Việt Nam phải chuẩn bị các giải pháp thay thế tốt nhất cho vấn đề đang thương lượng của mình và luôn tìm cách làm cho các giải pháp này mạnh hơn. Cụ thể, ngoài việc buộc phải có hành động kiên quyết nếu Trung Quốc ngày càng xâm phạm đến chủ quyền và sinh mạng của nhân dân Việt Nam, nếu cần, thì việc đưa vấn đề tranh chấp ra một Cơ quan Tài phán có thẩm quyền8 để phân xử cũng là một giải pháp tốt. Quan trọng là chúng ta phải chuẩn bị thật chu đáo về bằng chứng bởi khi đó, “chủ quyền” sẽ được quyết định bởi Cơ quan tài phán đã chọn.

• Chúng ta cần “làm cho” Trung Quốc tự nguyện tham gia đàm phán vì bây giờ họ đang không chịu đàm phán với chúng ta. Để làm chuyện đó, Việt Nam, qua nhiều loại thông điệp, cần làm Trung Quốc hiểu rằng việc tham gia đàm phán với Việt Nam sẽ tốt hơn rất nhiều nếu Việt Nam khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án có thẩm quyền. Một câu hỏi rất nhiều người quan tâm là tổ chức nào sẽ thực thi phán quyết của Tòa án nếu Trung Quốc không tuân thủ phán quyết cuối cùng. Ở đây, mục đích thiết thực nhất của Việt Nam khi tiếp cận theo hướng này là qua bản án của Tòa án, nếu thành công, sẽ làm cho cả thế giới biết hành động của Trung Quốc là xâm phạm chủ quyền của chúng ta và sau đó, dù sớm hay trễ, Trung Quốc sẽ phải tìm lý do để rút khỏi vùng biển tranh chấp nếu Trung Quốc không còn muốn giữ gìn hình ảnh của mình với quốc tế.

• Chúng ta phải tận dụng tối đa các thế mạnh của mình khi đàm phán với Trung Quốc. Đó là, sử dụng đòn bẩy tích cực chúng ta sẽ “trao đổi” những điều Trung Quốc muốn9 với việc họ rút ra khỏi vùng biển của Việt Nam. Bằng việc “trao đổi” này, Trung Quốc sẽ có được cái họ muốn, trừ khi lợi ích trên Biển Đông của Trung Quốc quá lớn, khiến Trung Quốc bị mờ mắt, mất sáng suốt và quyết định đánh đổi. Việt Nam cũng có thể “trao đổi” với Trung Quốc – làm cho điều Trung Quốc không mong đợi10 không xảy ra để đổi lấy việc Trung Quốc rút giàn khoan ra ngoài lãnh thổ Việt Nam. Vận dụng đòn bẩy chuẩn, Việt Nam sẽ kiên trì tập trung vào vào những gì mà Trung Quốc đã cam kết hay phải tuân thủ để thuyết phục Trung Quốc tôn trọng cam kết của họ. Đó là Công ước LHQ về Luật biển, thừa nhận quốc gia ven biển có thềm lục địa tối thiểu 200 hải lý, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông năm 2002 (Tuyên bố DOC năm 2002) và các tài liệu khác11.

• Việt Nam cần hợp tác chặt chẽ với các quốc gia đã có tranh chấp với Trung Quốc (Philippines, Nhật Bản), các quốc gia có biển có thể sẽ rơi vào tranh chấp tương tự (Brunei, Malaysia và Vùng lãnh thổ Đài Loan) và những nước có lợi ích kinh tế tại Biển Đông (Ấn Độ, Australia và Mỹ) sẽ bị ảnh hưởng nếu Trung Quốc giành được quyền kiểm soát Biển Đông. Cụ thể, Việt Nam, Philipines và Nhật Bản cần nhanh chóng xây dựng một liên minh để có tiếng nói chung, hỗ trợ về quân đội để cùng nhau bảo vệ vùng biển thuộc chủ quyền của ba nước, tránh để Trung Quốc chia rẽ và xâm phạm biển đảo của mỗi quốc gia. Ngoài ra, trong các hội thảo quốc tế, Việt Nam cần tích cực tranh thủ sự ủng hộ của các nước, các tổ chức trong khu vực và thế giới. Điều này sẽ giúp tiếng nói chính trực của Việt Nam có thêm sức mạnh khi chính thức tham gia đàm phán với Trung Quốc.

Chúng ta cần thấy rằng bất kỳ thỏa thuận nào cũng có thể bị phá vỡ trong quá trình thực hiện do trước đây Trung Quốc đã từng tham gia vào Tuyên bố DOC 2002 nhưng điều họ cam kết trước đây đang trái ngược với cách hành xử hiện nay. Từ đó, Việt Nam phải luôn không ngừng củng cố sức mạnh nội tại của chính mình bởi sẽ có những lúc đàm phán không thể dùng được với những bên mà với họ chỉ có sức mạnh quân sự là yếu tố để quyết định sự đúng sai.

Ls. Pham Quoc Tuan

300x250 Thương lượng có nguyên tắc – biện pháp bảo vệ chủ quyền

Cùng Danh Mục:

Comments

comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>