Nghị quyết 96/NQ-CP năm 2013 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7

Ty Huu Doc Ngoc

Số hiệu: 96/NQ-CP Ngày ban hành: 07 tháng 08 năm 2013
Loại văn bản: Người ký:

CHÍNH PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 96/NQ-CP

Hà Nội, ngày 07 tháng 08 năm 2013

NGHỊ QUYẾT

PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 7 NĂM 2013

Trong hai ngày 30 và 31 tháng 7 năm 2013, Chính phủ họp phiên thường kỳ tháng 7 năm 2013, thảo luận và quyết nghị những vn đề sau:

1. Về Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm, tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ, do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình.

Chính phủ thống nhất nhận định: Trong tháng 7 và 7 tháng đầu năm, kinh tế – xã hội tiếp tục chuyển biến tích cực, đúng hướng, đạt kết quả khá toàn diện, tạo cơ sở để tiếp tục phấn đấu thực hiện các mục tiêu đã đề ra cho năm 2013. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát tiếp tục được kiềm chế. Dư nợ tín dụng có cải thiện. Xuất khẩu duy trì mức tăng trưởng cao hơn kế hoạch đề ra; hoạt động nhập khẩu, nhất là nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ đầu tư và sản xuất kinh doanh có cải thiện. Các chính sách miễn, giảm, giãn thuế đã góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh. Sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo có chuyển biến tích cực. Sản xuất nông nghiệp tương đối ổn định. Lĩnh vực dịch vụ phát triển khá. Giải ngân vốn ODA và FDI được cải thiện. An sinh xã hội và phúc lợi xã hội được bảo đảm; các hoạt động tri ân, kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sỹ được tổ chức chu đáo, có ý nghĩa giáo dục truyền thống; các lĩnh vực văn hóa, y tế, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, giải quyết việc làm tiếp tục được quan tâm chỉ đạo. Công tác cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đấu tranh phòng, chống tham nhũng được chú trọng. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng được tăng cường; an ninh, trật tự được giữ vững. Công tác đối ngoại được đẩy mạnh.

Tuy nhiên, tình hình kinh tế – xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, lạm phát tuy đã được kiểm soát nhưng còn tiềm ẩn nguy cơ tăng. Tăng trưởng tín dụng còn ở mức thấp so với mục tiêu, tỷ lệ nợ xấu còn cao. Thu ngân sách đạt mức thấp so kế hoạch. Sản xuất, kinh doanh còn khó khăn, tổng cầu nền kinh tế vẫn thấp; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng thấp hơn cùng kỳ; các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực gặp nhiều khó khăn về giá, thị trường. Đời sống của một bộ phận dân cư còn khó khăn. Tình hình tai nạn giao thông, tội phạm còn diễn biến phức tạp. Thiên tai, dịch bệnh còn tiềm ẩn, khó lường. Việc tổ chức thực hiện các giải pháp theo chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và các cơ chế, chính sách đã ban hành còn chậm, hiệu quả thấp.

Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương kiên trì thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra từ đầu năm, nhất quán mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đồng thời triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh theo Nghị quyết số 01/NQ-CP số 02/NQ-CP Nghị quyết các phiên họp thường kỳ của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tập trung vào các vấn đề trọng tâm sau đây:

Khẩn trương cụ thể hóa và triển khai quyết liệt, có hiệu quả chương trình, kế hoạch hành động tái cơ cấu ngành, lĩnh vực theo Đán tổng thể tái cơ cấu kinh tế đã được phê duyệt, đặc biệt là tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tín dụng, đầu tư công.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều hành lãi suất phù hợp với tình hình lạm phát, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận vốn, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu nhưng không để tăng nợ xấu, hướng dòng vốn vào sản xuất, các lĩnh vực ưu tiên, các sản phẩm có thị trường, có khả năng cạnh tranh; có giải pháp hỗ trợ tiếp cận vốn nhằm khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất xi măng bán xi măng theo hình thức trả chậm để làm đường giao thông nông thôn; triển khai có hiệu quả chính sách cho vay hỗ trợ nhà ở; tích cực xử lý nợ xấu, khẩn trương đưa Công ty quản lý tài sản của các tchức tín dụng Việt Nam đi vào hoạt động; kiểm soát chặt chẽ tỷ giá, thị trường vàng.

Bộ Tài chính điều hành linh hoạt chính sách tài khóa phù hợp với chính sách tiền tệ, kiểm soát chặt chẽ giá cả thị trường; chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tổ chức thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 24 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước năm 2013. Tăng cường đôn đốc thu ngân sách, bảo đảm thu đúng, thu đủ, chống gian lận, trốn thuế, thất thu, nợ đọng thuế; quản lý chi ngân sách chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả; rà soát kỹ, đánh giá sát tình hình thực hiện nhiệm vụ thu, chi và chủ động xây dựng phương án điều hành cân đối ngân sách nhà nước năm 2013, báo cáo Thủ tướng Chính phủ vào đầu tháng 8 năm 2013; phối hợp với Bộ Giao thông vận tải điều chỉnh phí giao thông phù hợp, nghiên cứu hướng dẫn thực hiện chủ trương cho y ban nhân dân cấp xã được sử dụng phí bảo trì đường bộ đối với xe máy trên địa bàn để đầu tư đường giao thông nông thôn phục vụ xây dựng nông thôn mới.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương tích cực thúc đẩy đầu tư, tạo điều kiện khuyến khích đầu tư toàn xã hội, nhất là đầu tư tư nhân, hợp tác công – tư (PPP); đẩy mạnh giải ngân vốn ODA, FDI; khẩn trương hoàn thiện các thủ tục cam kết đối ứng ODA theo yêu cầu của nhà tài trợ; chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là đối với các dự án trọng điểm sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ kế hoạch 2013. Khẩn trương trình Thủ tướng Chính phủ phương án ứng vốn kế hoạch năm 2014 cho các công trình cp bách, có khả năng hoàn thành sớm; tích cực tìm nguồn vốn đối ứng các dự án ODA. Chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan, địa phương trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc thực hiện các dự án đầu tư, kinh doanh.

Bộ Công Thương tích cực triển khai các chương trình kích cầu thị trường nội địa, nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại, củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho công nghiệp chế biến; chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ nông dân trong sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu các mặt hàng nông, thủy sản; đẩy mạnh chống buôn lậu và gian lận thương mại, nhất là việc xuất khẩu lậu quặng qua đường biển; chỉ đạo Tổ điều hành thị trường trong nước kịp thời nắm tình hình, có biện pháp ứng phó, bảo vệ thị trường trong nước. Thực hiện lộ trình giá thị trường với điện, xăng dầu, than trên tinh thần công khai, minh bạch; hỗ trợ giá điện hợp lý đối với các hộ nghèo; kiểm soát chặt chẽ mức độ an toàn của các công trình thủy điện trong mùa mưa bão, chủ động phòng tránh nguy cơ xảy ra thảm họa.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tích cực triển khai Đề án tái cơ cấu nông nghiệp, trong đó cụ thể hóa nhiệm vụ tái cơ cấu từng ngành, từng sản phẩm; cải tiến phương pháp tổ chức, quản lý để nhân rộng các mô hình sản xuất hàng hóa chất lượng cao, hiệu quả gắn với hình thành chuỗi giá trị kết nối từ sản xuất đến tiêu thụ. Tiếp tục triển khai kéo dài thời gian thu mua tạm trữ lúa gạo, không để giá xuống thấp ảnh hưởng đến thu nhập của nông dân; phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao thúc đẩy đàm phán, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, mở rộng xuất khẩu nông sản tại các thị trường. Chủ động nắm tình hình, chỉ đạo công tác phòng chống lụt bão, đối phó với những diễn biến phức tạp của thiên tai.

Bộ Giao thông vận tải tích cực đôn đốc tiến độ các dự án trọng điểm về giao thông; phối hp chặt chẽ với các địa phương có dự án đi qua chỉ đạo quyết liệt công tác giải phóng mặt bằng dự án. y ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung quyết liệt đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, bảo đảm tiến độ các công trình giao thông trọng điểm đi qua địa bàn. Bộ Giao thông vận tải, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan làm việc cụ thể với y ban nhân dân thành phố Hà Nội để đôn đốc, tháo gỡ vướng mắc về công tác giải phóng mặt bằng, bảo đảm tiến độ các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn Thủ đô.

Bộ Tài nguyên và Môi trường tăng cường kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ vướng mắc để các địa phương đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị quyết của Quốc hội; chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải khẩn trương rà soát, tổng hp nhu cầu thu hồi đất lúa, đề xuất nguyên tắc giải quyết theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa để bảo đảm tiến độ các dự án giao thông trọng điểm quốc gia.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bộ, cơ quan, địa phương chỉ đạo đẩy mnh công tác xúc tiến, quảng bá, thúc đẩy các hoạt động du lịch; bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, nếp sống văn minh tại các điểm du lịch; phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch, thu hút khách quốc tế đến Việt Nam, tăng doanh thu và lợi nhuận thoạt động du lịch.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tiếp tục chỉ đạo thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, các Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và việc làm; chủ trì, phối hợp với y ban Dân tộc rà soát, có biện pháp hỗ trợ cụ thể, thiết thực để đồng bào nghèo, vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số có công cụ sản xuất, ổn định cuộc sống; chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng khẩn trương rà soát, hướng dẫn, giải quyết chế độ chính sách đối với thương binh, người có công trong chiến tranh không còn đủ giấy tờ theo quy định.

Bộ Y tế chỉ đạo tăng cường công tác y tế dự phòng, rà soát việc sử dụng vắc-xin, điều tra, sớm công bố nguyên nhân trẻ sơ sinh tử vong sau tiêm chủng; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở các bệnh viện các tuyến, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân; đẩy mạnh thực hiện Đán giảm tình trạng quá tải của bệnh viện; chỉ đạo điều chỉnh giá dịch vụ y tế phù hợp, thận trọng.

Thanh tra Chính phủ tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài và vụ việc mới phát sinh; triển khai các giải pháp phòng ngừa tham nhũng; tăng cường giám sát, thẩm định và xử lý sau thanh tra; trình Chính phủ ban hành Nghị định về xử lý sau thanh tra.

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 – 2020, triển khai Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ bảo đảm chất lượng của kế hoạch cải cách hành chính hàng năm; đẩy mạnh cải cách chế độ công chức, công vụ theo Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ; chỉ đạo, đôn đốc các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương xác định vị trí việc làm, cơ cấu công chức; quản lý chặt chẽ biên chế, tổ chức bộ máy.

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, các bộ, cơ quan, địa phương tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 05 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ; tăng cường công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.

Các bộ, cơ quan chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, công khai về các chủ trương, chính sách, giải pháp chỉ đạo, điều hành thuộc lĩnh vực bộ, cơ quan quản lý. Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo tăng cường thông tin chính thống, tạo sự minh bạch và định hướng dư luận; phối hợp với cơ quan chức năng ngăn chặn và xử lý việc lợi dụng tự do dân chủ thông tin, tuyên truyền xuyên tạc, gây phương hại đến uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân và lợi ích của nhân dân; khẩn trương trình Đ án tái cơ cấu tập đoàn Bưu chính Vin thông Việt Nam vào đầu tháng 8 năm 2013.

2. Về Báo cáo tình hình quản lý, cấp phép hoạt động khoáng sản và các giải pháp tăng cường quản lý, do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trình.

Trong những năm qua, nhất là sau khi Luật khoáng sản có hiệu lực, Chính phủ đã tích cực chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương quan tâm công tác quản lý, cấp phép hoạt động khoáng sản. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bước đầu, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập cần tiếp tục chấn chỉnh, khắc phục.

Chính phủ thống nhất các nhóm nhiệm vụ, giải pháp theo đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường và yêu cầu:

– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thực hiện các kiến nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường sau đợt thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản và tình hình cấp phép hoạt động khoáng sản tại các địa phương trong năm 2011 và 2012, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường kết quả xử lý các vi phạm trong cấp phép hoạt động khoáng sản trước ngày 30 tháng 12 năm 2013. Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo cụ thể và giám sát việc xử lý các vấn đề trên. Các cơ quan chức năng tiến hành khởi tố điều tra, xử lý theo pháp luật đối với những trường hợp phát hiện có dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng.

Bộ Tài nguyên và Môi trường khẩn trương hoàn chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật khoáng sản năm 2010; thực hiện minh bạch hóa các thủ tục cấp phép hoạt động khoáng sản; tiến hành lựa chọn có trọng tâm, trọng điểm đối với các khoáng sản có quy mô lớn và nhu cầu bức thiết để điều tra, thăm dò, đánh giá trữ lượng, làm cơ sở lập quy hoạch khai thác phù hợp.

Bộ Công Thương khẩn trương hoàn chỉnh để sớm ban hành quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng titan, sắt, đồng, chì – kẽm, mangan; đồng thời xem xét việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các khoáng sản khác; quy hoạch các khu chế biến khoáng sản tập trung với công nghệ hiện đại; thực hiện nghiêm chủ trương không xuất khẩu khoáng sản thô; phối hợp với cơ quan chức năng ngăn chặn xuất khẩu lậu khoáng sản, đặc biệt là quặng titan, sắt, than.

Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ động nghiên cứu nguồn nguyên liệu sản xuất gạch, khuyến khích phát triển công nghệ sản xuất gạch không nung, hạn chế và tiến tới xóa bỏ sản xuất gạch nung bằng nguyên liệu đất gây ô nhiễm môi trường và làm mất diện tích canh tác; chỉ đạo các địa phương kiểm soát chặt việc nạo vét và xuất khẩu cát nhiễm mặn tại các cửa sông.

3. Về Đề án phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế do Bộ trưởng Bộ Tài chính trình.

Chính phủ thảo luận và thống nhất ban hành Nghị quyết riêng về vấn đề này để triển khai thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Về Đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trình.

Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tham gia ý kiến về dự thảo Đề án bằng văn bản; lưu ý việc đánh giá thực trạng giáo dục và đào tạo, quan điểm đổi mới căn bản và toàn diện, mục tiêu, những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể; có ý kiến về các vấn đề cần xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương Đảng; gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 10 tháng 8 năm 2013 để tổng hp, hoàn chỉnh Đán, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Ban Cán sự đảng Chính phủ trước khi trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

5. Về Báo cáo tình hình soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2013; Báo cáo tình hình xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh 6 tháng đầu năm 2013 do Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trình.

Trong 6 tháng đầu năm, Chính phủ, các bộ, cơ quan đã tích cực trong công tác xây dựng thể chế; thực hiện tốt chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; tập trung nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành, bảo đảm chất lượng các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh, nhất là đối với các văn bản nợ đọng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được còn tồn tại một số hạn chế: chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định còn phải điều chỉnh nhiều; chất lượng một số dự án, dự thảo chưa đạt yêu cầu; việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh chậm, số văn bản nợ đọng còn nhiều, đặc biệt là các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.

Chính phủ yêu cầu các thành viên Chính phủ tiếp tục chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh. Các bộ, cơ quan phân công một đồng chí lãnh đạo trực tiếp phụ trách chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác xây dựng thể chế; tập trung soạn thảo, trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tiến độ và chất lượng; phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan, coi trọng ý kiến góp ý của nhân dân và phản biện xã hội trong quá trình nghiên cứu, xây dựng văn bản.

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra đối với các bộ, ngành; hàng quý có báo cáo Chính phủ về tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, bao gồm cả tình trạng nợ đọng văn bản. Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Tư pháp công khai tình hình soạn thảo, trình văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh của các bộ, cơ quan ngang bộ hàng tháng trên cổng thông tin điện tử Chính phủ.

6. Về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; dự án Luật công an nhân dân (sửa đổi) do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an trình.

Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến thành viên Chính phủ, hoàn chỉnh dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và dự án Luật công an nhân dân (sửa đổi). Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ trình Quốc hội.

7. Về dự án Luật đầu tư công, Luật xây dựng (sửa đổi) do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Xây dựng trình.

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính tiếp thu ý kiến thành viên Chính phủ, tiếp tục rà soát, thống nhất về phạm vi điều chỉnh của hai dự án Luật này, bảo đảm sự phù hợp và liên quan nhưng không chồng chéo giữa hai Luật với nhau, giữa hai dự án Luật này với Luật Ngân sách nhà nước, Luật đu tư, Luật quản lý nợ công, Luật quản lý sử dụng tài sản nhà nước, Luật đấu thầu. Theo đó:

Dự án Luật đầu tư công điều chỉnh về quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, có tính chất ngân sách nhà nước cho phát triển kinh tế – xã hội, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, lãng phí, hiệu quả thấp, để quản lý tốt hơn quá trình đầu tư công, góp phần thúc đẩy tái cơ cấu đầu tư công; kế thừa các quy định còn phù hợp của pháp luật về đầu tư công, bổ sung các quy định phù hợp với tình hình mới, phát triển quan điểm tại Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư vốn từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ. Luật đầu tư công tập trung điều chỉnh về kế hoạch đầu tư (trung hạn, hàng năm), nguyên tắc phân bổ vốn đầu tư, điều kiện cấp phát vốn đầu tư, thẩm quyền quyết định đầu tư và trách nhiệm của người quyết định đầu tư. Trình tự, thủ tục lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi và lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng trong đầu tư công có hoạt động xây dựng công trình thực hiện theo quy định của Luật xây dựng.

Dự án Luật xây dựng (sửa đổi) điều chỉnh các hoạt động đầu tư xây dựng từ khâu quy hoạch xây dựng, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cho đến khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng, áp dụng đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc mọi nguồn vốn. Nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật xây dựng cần quy định chặt chẽ về quản lý chất lượng công trình, quản lý chi phí xây dựng (định mức kinh tế-kỹ thuật, đơn giá, dự toán xây dựng, tổng mức đầu tư), an toàn công trình, tiến độ xây dựng và các yếu tố đặc thù của hoạt động đầu tư xây dựng; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng, bao gồm: người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công xây dựng. Riêng thẩm quyền, trách nhiệm của người quyết định đu tư các dự án đu tư xây dựng công trình từ nguồn vốn ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định của Luật đầu tư công.

Trên có sở đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng hoàn chỉnh dự án Luật đầu tư công, Luật xây dựng (sửa đổi), báo cáo Thủ tướng Chính phủ./.

Nơi nhận:
Ban Bí thư Trung ương Đảng;
Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
HĐND, UBND các tnh, thành phố trực thuộc TW;
Văn phòng Tổng Bí thư;
Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
Văn phòng Chủ tch nước;
Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
a án nhân dân tối cao;
Viện kiểm sát nhân dân ti cao;
– Kiểm toán Nhà nước;
– Ủ
y ban Giám sát tài chính quốc gia;
Ngân hàng Chính sách xã hi;
Ngân hàng Phát trin Việt Nam;
UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
– Cơ
quan Trung ương của các đoàn thể;
VPCP: BTCN, các PCN; các Trợ lý Thủ tướng Phó Thủ tướng; các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo, Cổng TTĐT;
Lưu: Văn thư, TH (3b).

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

300x250 Nghị quyết 96/NQ CP năm 2013 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7

Liên Quan Khác

Cùng Danh Mục:

Nghị quyết 126/NQ-CP năm 2013 điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập mới 2 xã thuộc huyện Đăk H...
Nghị quyết 117/NQ-CP năm 2013 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 10 năm 2013
Nghị quyết 109/NQ-CP năm 2013 về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ...
Nghị quyết 103/NQ-CP năm 2013 về định hướng nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý đầu tư trự...
Nghị quyết 99/NQ-CP năm 2013 thành lập các phường: Đông Cương, Đông Hương, Đông Hải, Quảng Hưng, Quả...
Nghị quyết 02/2012/NQ-HĐND quy định chế độ, định mức chi tiêu tài chính phục vụ hoạt động của Hội đồ...
Nghị quyết 34/NQ-CP năm 2012 phê duyệt Hiệp định tạo điều kiện thuận lợi cho phương tiện cơ giới đườ...
Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐND quy định chế độ, định mức chi tiêu tài chính phục vụ hoạt động của Hội đồ...

Comments

comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <s> <strike> <strong>